CHÍNH PHỦ HOA KỲ THÔNG BÁO MỨC THUẾ MỚI, VIỆT NAM THUỘC NHÓM CHỊU MỨC THUẾ CAO NHẤT
Ngày 23/7/2026, chính quyền Tổng thống Donald Trump công bố quyết định áp thuế bổ sung theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với hàng hóa nhập khẩu từ 60 nền kinh tế. Theo phía Hoa Kỳ, quyết định này được đưa ra trong bối cảnh nước này tăng cường các biện pháp nhằm bảo đảm tính minh bạch trong chuỗi cung ứng và việc thực thi các quy định liên quan đến lao động cưỡng bức.
SÁNG NGÀY 23/7/2026, CHÍNH PHỦ HOA KỲ CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH ÁP THUẾ BỔ SUNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TỪ 60 NỀN KINH TẾ VÀO QUỐC GIA NÀY
Theo thông tin từ VASEP, Việt Nam thuộc nhóm chịu mức thuế bổ sung 12,5%, cùng với Trung Quốc, Thái Lan, Chile và Na Uy. Trong khi đó, các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của thủy sản Việt Nam như Ấn Độ, Ecuador và Indonesia chỉ chịu mức thuế 10%, tạo lợi thế nhất định về giá tại thị trường Hoa Kỳ.
Theo quyết định của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR), mức thuế mới có hiệu lực từ 0 giờ 01 phút (giờ miền Đông Hoa Kỳ) ngày 24/7/2026 đối với hàng hóa nhập khẩu để tiêu dùng hoặc xuất kho để tiêu dùng. Các lô hàng đã được xếp lên tàu trước thời điểm trên và hoàn tất nhập khẩu trước ngày 28/7/2026 sẽ được áp dụng cơ chế chuyển tiếp.

Đây là khoản thuế bổ sung (Additional Ad Valorem Duty), không thay thế các nghĩa vụ thuế hiện hành. Điều đó đồng nghĩa các mặt hàng như tôm, cá tra, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua, ghẹ và sản phẩm thủy sản chế biến của Việt Nam sẽ phải chịu thêm 12,5% thuế khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ, bên cạnh thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN), thuế chống bán phá giá (AD), thuế chống trợ cấp (CVD) và các loại thuế, phí khác nếu có.
NGÀNH TÔM VIỆT NAM ĐANG PHẢI CHỊU ÁP LỰC CHƯA TỪNG CÓ TỪ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LỚN THỨ 2 CỦA VIỆT NAM
Đối với mặt hàng tôm, mức thuế bổ sung 12,5% khiến Việt Nam chịu bất lợi so với các quốc gia cạnh tranh trực tiếp như Ecuador, Indonesia và Ấn Độ khi các nước này chỉ chịu mức thuế 10%. Khoảng chênh lệch 2,5% tuy không lớn nhưng đủ tạo ra khác biệt về giá thành, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh thị trường Mỹ ngày càng ưu tiên yếu tố chi phí.
Nếu thuế quan làm gia tăng chi phí thì các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng lại trở thành điều kiện để doanh nghiệp có thể tiếp tục duy trì lợi thế tại thị trường Hoa Kỳ. Đây cũng là xu hướng đang được nhiều thị trường nhập khẩu lớn áp dụng trong những năm gần đây.

Thực tế, Hoa Kỳ đã và đang tăng cường nhiều quy định liên quan đến minh bạch chuỗi cung ứng như Seafood Import Monitoring Program (SIMP) đối với một số nhóm thủy sản có nguy cơ khai thác bất hợp pháp; Uyghur Forced Labor Prevention Act (UFLPA) nhằm ngăn chặn hàng hóa có liên quan đến lao động cưỡng bức; cùng với việc yêu cầu doanh nghiệp lưu trữ, cung cấp hồ sơ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu khi cần thiết. Song song đó, quyết định áp thuế mới cũng được phía Hoa Kỳ lý giải là nhằm tăng cường tính minh bạch trong chuỗi cung ứng và việc thực thi các quy định liên quan đến lao động cưỡng bức.
Điều này cho thấy xu hướng quản lý của Hoa Kỳ đang chuyển từ việc chỉ kiểm soát sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp không chỉ cần chứng minh chất lượng thành phẩm mà còn phải có khả năng cung cấp dữ liệu về vùng nuôi, con giống, quá trình chăm sóc, sử dụng thức ăn, thuốc thú y, thu hoạch, vận chuyển và chế biến khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý hoặc nhà nhập khẩu.
Nói cách khác, lợi thế cạnh tranh của ngành tôm không còn chỉ nằm ở giá bán mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng minh bạch dữ liệu. Một doanh nghiệp sở hữu hệ thống dữ liệu đầy đủ, có thể truy xuất nhanh và chứng minh được tính tuân thủ sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận các thị trường khó tính hơn, đồng thời giảm rủi ro khi đối mặt với các hoạt động thanh tra hoặc kiểm tra xuất xứ.
SỐ HÓA CHUỖI CUNG ỨNG ĐANG TRỞ THÀNH NỀN TẢNG CHO XUẤT KHẨU BỀN VỮNG
Trong bối cảnh đó, số hóa chuỗi cung ứng không còn đơn thuần là giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý mà đang trở thành nền tảng để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Tại Hội thảo và Trưng bày sản phẩm, anh Đậu Quang Vũ - đại diện Công ty CP Công nghệ Otanics đã chia sẻ trong tham luận "Số hóa chuỗi cung ứng tôm - Nền tảng cho truy xuất nguồn gốc minh bạch" rằng việc xây dựng hệ thống dữ liệu xuyên suốt từ vùng nuôi đến chế biến sẽ giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn toàn bộ chuỗi giá trị, đồng thời tạo nền tảng cho truy xuất nguồn gốc minh bạch.

Theo anh, khi dữ liệu được số hóa và kết nối xuyên suốt giữa người nuôi, doanh nghiệp chế biến và đơn vị xuất khẩu, doanh nghiệp có thể chủ động đáp ứng yêu cầu của thị trường, rút ngắn thời gian cung cấp hồ sơ, nâng cao uy tín với đối tác quốc tế và giảm đáng kể rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.
Trong dài hạn, khi các hàng rào thương mại và yêu cầu kỹ thuật tiếp tục gia tăng, minh bạch dữ liệu sẽ không còn là một lợi thế cộng thêm mà sẽ trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Đối với ngành tôm Việt Nam, đầu tư vào số hóa, truy xuất nguồn gốc và quản trị dữ liệu không chỉ giúp thích ứng trước những biến động của thị trường mà còn góp phần nâng cao giá trị con tôm Việt Nam, củng cố vị thế tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm và hướng đến phát triển bền vững.